Tư vấn miễn cước gọi:
1800.6626

Nhiều công trình nghiên cứu đã chứng minh feverfew là loại thảo dược có khả năng giảm độ trầm trọng cũng như tần xuất tái phát cơn đau nửa đầu. Feverfew cũng rất hiệu quả trong việc điều trị chứng đau nửa đầu kinh niên không rõ nguyên nhân.

Đặc điểm thực vật

Feverfew có tên khoa học là Tanacetum parthenium L. thuộc họ Cúc (Asteraceae). Loài này mọc tự nhiên tại vùng bán đảo Balkan, ngày nay Feverfew được trồng ở Úc, Châu Âu, Trung Quốc, Nhật Bản và Bắc Phi. Vào giữa thế kỷ 19, Feverfew đã được biết đến tại Hoa Kỳ. Cây này mọc dọc bờ sông, trên các cánh đồng, vùng đất hoang và dọc đường biên giới giữa phía Đông Canada với Maryland và phía Tây của Missouri.Thảo dược Feverfew

Thảo dược Feverfew

Feverfew có thân ngắn, dạng bụi cao từ 0.3 m đến 1 m. Lá màu vàng xanh thường dài dưới 8cm, có lông và đối xứng. Cụm hoa màu vàng hình ống có từ 10 đến 20 cánh màu trắng, nở từ tháng Bảy đến tháng Mười, đường kính khoảng 2cm.

Tài liệu tham khảo

  1. Duke JA. Boca Raton, FL: CRC Press; 1985. CRC Handbook of Medicinal Herbs.
  2. Meyer JE. Hammond IN: Hammond Book Co; 1934. The Herbalist.
  3. Castleman M. Emmaus, PA: Rodale Press; 1991. The Healing Herbs.
  4. Jain NK, Kulkarni SK. Antinociceptive and anti-inflammatory effects of Tanacetum parthenium L.extract in mice and rats. J Ethnopharmacol. 1999;68:251–9.

Lịch sử sử dụng

Lịch sử thuốc Migrin

Thảo dược Feverfew có một lịch sử sử dụng rất lâu đời, đặc biệt bởi các nhà thực vật học ở Hy Lạp và Châu Âu. Người Hy Lạp cổ gọi cây này là Parthenium, bắt nguồn từ việc người ta dùng loài này để cứu sống một người đàn ông bị ngã từ đền Parthenon trong quá trình xây dựng ngôi đền này vào thế kỷ thứ 5 trước công nguyên. Tên này cũng có thể bắt nguồn từ việc loài này được dùng để điều trị chứng đau bụng hành kinh đối với những người con gái trẻ, vì từ parthenos trong tiếng Hy Lạp có nghĩa là “trinh nữ’. Có thể tên tiếng Anh feverfew bắt nguồn từ đặc điểm cây có lông được gọi là featherfew (feather: lông; few: một chút).

Vào thế kỷ thứ nhất, Bác sỹ Hy Lạp Dioscorides đã dùng feverfew như một chất hạ sốt. Feverfew cũng được biết đến như “aspirin thời trung cổ” hay “aspirin” của thế kỷ 17. Vào năm 1963, cây này được khuyến cáo để chữa những chứng đau đầu trong cuốn sách Gerad’s Herbal.

Năm 1978, một tạp chí sức khỏe của Anh đã báo cáo về trường hợp một phụ nữ 68 tuổi bị Migraine mãn tính từ khi 16 tuổi đã dùng lá feverfew và giảm hoàn toàn cơn đau đầu trong vòng một vài tháng. Từ những thập niên 80, feverfew trở lên phổ biến ở Anh, Pháp và Canada, bác sỹ đã sử dụng feverfew để phòng ngừa Migraine. Từ thập niên 90  các sản phẩm từ feverfew đã trở thành sản phẩm bán chạy nhất tại Hoa kỳ.

Thực phẩm chức năng Migrin với thành phần chính là feverfew, có tác dụng giảm, giải phóng chất dẫn truyền thần kinh chống co thắt mạch máu. Giúp giảm đau, giảm tái phát cơn đau nửa đầu.

[jwplayer player=”1″ mediaid=”691″]

Tài liệu tham khảo:

  1. Chavez M, Chavez P. Feverfew. Hosp Pharm. 1999;34:436–61.
  2. Setty AR, Sigal AH. Herbal medications commonly used in the practice of rheumatology: Mechanisms of action, efficacy, and side effects. Semin Arthritis Rheum. 2005;34:773–84.
  3. Sumner H, Salan U, Knight DW, Hoult JR. Inhibition of 5-lipoxygenase and cyclo-oxygenase in leukocytes by feverfew.Involvement of sesquiterpene lactones and other components. Biochem Pharmacol. 1992;43:2313–20.

Tác dụng trên đau nửa đầu

Tác dụng giảm đau, giảm tái phát cơn đau nửa đầu của Feverfew đã được các nhà nghiên cứu và đề xuất theo nhiều cơ chế khác nhau.  Trong đó phần lớn cho rằng Feverfew có tác dụng ức chế tổng hợp chất gây viêm Prostaglandin, giảm co thắt cơ trơn mạch máu, ức chế kết tập tiểu cầu.Năm 1978, một tạp chí sức khỏe của Anh đã báo cáo về trường hợp một phụ nữ 68 tuổi bị đau nửa đầu mãn tính từ khi 16 tuổi đã dùng lá Feverfew và giảm hoàn toàn cơn đau đầu trong vòng một vài tháng [1].Một nghiên cứu được thực hiện ở trung tâm London Migraine Clinic, Anh năm 1985 trên 17 bệnh nhân tham gia nghiên cứu (8 bệnh nhân được điều trị Feverfew và 9 bệnh nhân dùng giả dược kiểm soát) báo cáo kết quả cho thấy những BN dùng giả dược đã có một sự gia tăng đáng kể về tần suất và mức độ nghiêm trọng của đau đầu, và các triệu chứng như buồn nôn, nôn mửa so với nhóm sử dụng feverfew trong những tháng đầu điều trị [48,49]. Những kết quả này được J. J. Murphy cùng cộng sự (University Hospital, Nottingham) xác nhận trong một nghiên cứu đối chứng giả dược với 72 bệnh nhân bị đau nửa đầu [50]. Trên cơ sở nghiên cứu của họ, các nhà nghiên cứu đã kết luận rằng Feverfew có tác dụng hữu ích trong điều trị dự phòng bệnh đau nửa đầu, ngoài ra, còn được sử dụng trong đau đầu cụm và các bệnh đau đầu khác [51]. Feverfew có thể tạo ra tác dụng chống đau nửa đầu một cách tương tự như methysergide maleat (Sansert)- một chất đối kháng 5-HT [ 55 ,56]. Một nghiên cứu được thực hiện tại trung tâm London Migraine Clinic, nước Anh năm 1985 cho 2 nhóm bệnh nhân đau nửa đầu: nhóm một được điều trị bằng lá Feverfew và nhóm hai dùng giả dược (một chất không có tác dụng chữa bệnh nhưng có hình dáng giống thuốc- thường là lá bắp cải hoặc một lá an toàn khác) có kiểm soát, theo dõi. Kết quả cho thấy những bệnh nhân dùng giả dược đã có một sự gia tăng đáng kể về tần suất và mức độ nghiêm trọng của đau đầu, và các triệu chứng như buồn nôn, nôn mửa so với nhóm sử dụng Feverfew trong những tháng đầu điều trị [2,3]. Những kết quả này được J. J. Murphy cùng cộng sự (University Hospital, Nottingham) xác nhận trong một nghiên cứu đối chứng giả dược với 72 bệnh nhân bị đau nửa đầu [4]. Dựa vào các nghiên cứu khoa học về loài cây này, các chuyên gia cho rằng Feverfew hữu ích không chỉ đối với chứng đau nửa đầu và đau đầu cụm cổ điển, mà còn cho tiền kinh nguyệt, kinh nguyệt và đau đầu khác [5]. Feverfew có thể tạo ra tác dụng chống đau nửa đầu một cách tương tự như methysergide maleat (Sansert) – một chất đối kháng 5-HT, đối kháng thụ thể sertonin [6,7].

Tương tác thuốc

Chưa có công bố nào nghiêm trọng về tương tác của Feverfew với các thuốc dùng kèm. Feverfew có thể làm ảnh hưởng tác dụng thuốc chống đông máu do tác dụng chống ức chế tiểu cầu nên có  khi sử dụng cùng các thuốc chống đông máu như aspirin, warfarin.. cần hỏi thêm ý kiến bác sĩ [8,10]

Tác dụng không mong muốn

Các nghiên cứu lâm sàng đã chỉ ra việc sử dụng Feverfew lâu dài không gây nên tác dụng không mong muốn nào nghiêm trọng. Những bệnh nhân dừng sử dụng Feverfew một cách đột ngột có thể có các hội chứng như, đau đầu, mất ngủ, đau khớp, căng thẳng, giấc ngủ kém, cứng khớp thường được gọi là hội chứng “postfeverfew” [9,10].

Thận trọng:

Không nên sử dụng cho phu nữ có thai, phụ nữ đang cho con bú, trẻ em < 2 tuổi, bệnh nhân dị ứng với hoa cúc, bệnh nhân trước khi phẫu thuật 2 tuần [10].

Tài liệu tham khảo:

  1. Feverfew-a new drug or an old wives′ remedy? Lancet. 1985;1:1084. [PubMed]
  2. Johnson ES, Kadam NP, Hylands DM, Hylands PJ. Efficacy of feverfew as prophylactic treatment of migraine. Br Med J. 1985;291:569–73. [PMC free article] [PubMed]
  3. Waller PC, Ramsay LE. Efficacy of feverfew as prophylactic treatment of migraine. Br Med J. 1985;291:1128. [PMC free article] [PubMed]
  4. Murphy JJ, Heptinstall S, Mitchell JL. Randomised double-blind placebo-controlled trial of feverfew in migraine prevention. Lancet. 1988;2:189–92. [PubMed]
  5. Groenewegen WA, Knight DW, Heptinstall S. Progress in the medicinal chemistry of the 0 herb feverfew. Prog Med Chem. 1992;29:217–38. [PubMed]
  6. Losche W, Mazurov AV, Heptinstall S, Groenewegen WA, Repin VS, Till U. An extract of feverfew inhibits interactions of human platelets with collagen substrates. Thromb Res. 1987;48:511–8. [PubMed]
  7. . DeWeerdt C, Bootsma H, Hendriks H. Herbal medicines in migraine prevention.Randomized double-blind placebo-controlled crossover trial of a feverfew preparation. Phytomedicine. 1996;3:225–30. [PubMed]
  8. Losche W, Mazurov AV, Heptinstall S, Groenewegen WA, Repin VS, Till U. An extract of feverfew inhibits interactions of human platelets with collagen substrates. Thromb Res. 1987;48:511–8. [PubMed]
  9. . Johnson ES, Kadam NP, Hylands DM, Hylands PJ. Efficacy of feverfew as prophylactic treatment of migraine. Br Med J. 1985;291:569–73. [PMC free article] [PubMed]
  10. Miller LG. Herbal medicinals: Selected clinical considerations focusing on known or potential drug-herb interactions. Arch Intern Med. 1998;158:2200–11. [PubMed]

Nghiên cứu khoa học

Bài 1: Thử nghiệm ngẫu nhiên, mù đôi, có đối chứng về tác dụng dự phòng đau nửa đầu của Feverfew tại Anh

Tác giả: JJ. Murphy và cộng sự, Khoa Y, Đại học Hospital, Nottingham, Vương quốc Anh. 1988

Đối tượng nghiên cứu: (20 nam và 56 nữ đáp ứng tiêu chuẩn lựa chọn)

Tiêu chuẩn lựa chọn: Người trưởng thành mắc Đau nửa đầu (xác định theo tiêu chuẩn Blau) trên 2 năm (tiểu thiểu 1 cơn đau/ 1 tháng)

Tiêu chuẩn loại trừ:

  1. Bệnh nhân bị đau nửa đầu đang điều trị các bệnh khác (ngoại trừ việc dùng thuốc tránh thai). Tuy nhiên những người dùng thuốc tránh thai không thay đổi trong vòng 3 tháng vẫn được lựa chọn tham gia nghiên cứu.
  2. Phụ nữ đang trong độ tuổi sinh nở không áp dụng biện pháp tránh thai đầy đủ.

 Thiết kế thử nghiệm:

Sau giai đoạn 1 tháng mù đơn dùng giả dược, bệnh nhân được chỉ định dùng một viên feverfew mỗi ngày hoặc dùng giả dược trong vòng 4 tháng. Sau đó sẽ hoán đổi giữa 2 nhóm, không có giai đoạn nghỉ, sử dụng trong vòng 4 tháng cuối.

Đánh giá bệnh nhân

Trong pha mù đôi, bệnh nhân được đánh giá 2 tháng một lần. Nhật ký ghi lại các triệu chứng Migraine được ghi chép mỗi giai đoạn, ghi chép số cơn đau, mức độ đau, các triệu chứng khác.

Mức độ đau đánh giá theo thang điểm:

0: không đau; 1: nhẹ, không gián đoạn hoạt động hàng ngày; 2: nặng, giảm hiệu quả công việc; 3: rất nặng, yêu cầu được nằm nghỉ;.

Nôn và buồn nôn được đánh giá theo thang điểm:

0: không buồn nôn, không nôn; 1: chỉ buồn nôn; 2= nôn 1 lần; 3= nôn nhiều hơn 1 lần.

Ghi chép lại những triệu chứng về thị giác, những hoạt động hàng ngày bị giảm sút do đau nửa đầu.

Điều trị:

Viên năng cứng chứa từ 70 đến 114 mg Feverfew chứa 2.19 micromol parthernolide mỗi viên. Mỗi viên này gồm 2 lá có kích thước trung bình.

Giả dược: lá feverfew được thay bằng lá bắp cải.

Kết quả

60/76 bệnh nhân hoàn thành nghiên cứu.

Điều trị bằng Feverfew giúp làm giảm 24% tổng số lượng cơn đau so với dùng giả dược (có ý nghĩa thống kê). Tuy nhiên không có sự khác biệt có ý nghĩa giữa việc điều trị bằng Feverfew và giả dược về tổng số thời gian của cơn đau (Bảng I).

Những người bị Đau nửa đầu đã mất 68 ngày làm việc khi điều trị bằng Feverfew so với 78 ngày làm việc khi dùng giả dược.

 Bảng I.  So sánh số lượng và thời lượng trung bình các cơn đau mỗi giai đoạn 2 tháng

Bảng I. So sánh số lượng và thời lượng trung bình các cơn đau mỗi giai đoạn 2 tháng

Cả hai cách đánh giá hiệu quả (mức độ đau và mức độ triệu chứng) đều chứng tỏ Feverfew hiệu quả hơn so với giả dược (bảng II và III). Thang đánh giá thị giác (điểm càng cao chứng tỏ càng hiệu quả) đới với dùng Feverfew là 74, với giả dược là 60 (độ tin cậy p<0.0001).

 Bảng II. Mức độ đau của các cách điều trị

bảng 3

Bảng III. Mức độ các triệu chứng nôn và buồn nôn của các cách điều trị

Hình 1 so sánh điểm  đánh giá theo giai đoạn 2 tháng (thang điểm 5). Đáp ứng với Feverfew và giả dược có khác biệt có ý nghĩa: 36% số người bị Migraine uống Feverfew đánh giá “thấy tốt hơn nhiều” và chỉ có 1% đánh giá “tệ hơn nhiều” so với dùng giả dược tỷ lệ này lần lượt là 21% và 10%.

biểu đồ 1

Biểu đồ 2

biểu đồ 3

biểu đồ 4

Bài 2: Feverfew điều trị ngăn ngừa Migraine: một nghiên cứu mù đôi có nhóm chứng

Tác giả: D.Palevitch và cộng sự (Trung tâm nghên cứu Newe Yaar, Isreal)

Đối tượng:

57 bệnh nhân (47 nữ và 10 nam) độ tuổi từ 9 đến 65 tuổi. Người bệnh sẽ được kiểm tra bằng cách trả lời các câu hỏi về thời gian bị bệnh, tần suất và thời lượng cơn đau nửa đầu, và các triệu chứng khác: nôn, buồn nôn, nhạy cảm với âm thanh, ánh sáng.

Sử dung thang tự đánh giá mức độ đau từ 0 đến 10 điểm (0 là không đau; và 10 là đau rất nghiêm trọng).

Các triệu chứng liên quan được đánh giá bằng thang điểm từ 0 đến 4 (0= không có; 4= trầm trọng).

Thiết kế nghiên cứu

Pha 1: thử nghiệm nhãn mở. Bệnh nhân được chia ngẫu nhiên vào 2 nhóm (A và B). Cả 2 nhóm sẽ dùng liều 100mg Feverfew mỗi ngày (2 viên) trong vòng 60 ngày.

Pha 2 và 3: thử nghiệm cắt ngang mù đôi ngẫu nhiên có đối chứng. Nhóm A (n = 30) tiếp tục uống Feverfew thêm 30 ngày và sau đó chuyển sang dùng giả dược trong vòng 30 ngày nữa (100mg ngò tây).

Nhóm B (n=27) 30 ngày đầu tiên dùng giả dược sau đó dùng feverfew trong vòng 30 ngày. Không có giai đoản nghỉ giữa các pha thực nghiệm

Thời gian/nhóm 2 tháng đầu Tháng thứ Ba Tháng thứ 4
Nhóm A 100mg Feverfew/ 1 ngày 100mg Feverfew/1ngày Giả dược
Nhóm B 100mg Feverfew/ 1 ngày Giả dược 100mg Feverfew/1 ngày

Kết quả

Kết quả trong giai đoạn nhãn mở chỉ ra có sự giám đáng kể về cường độ cơn đau (Hình 1). Sau 60 ngày điều trị bằng feverfew, cường độ đau trung bình ở cả 2 nhóm A và B giảm xuống còn 4.27 điểm. Sụ khác biệt về cường độ đau trước và sau khi dùng Feverfew rất có ý nghĩa (p<0.001).

Trong pha 2, giai đoạn mù đôi, cường độ đau của bệnh nhân nhóm A những người uống Feverfew giảm thêm 1.54 điểm, trong khi đó nhóm B là nhóm dùng giả dược cường độ đau tăng 1.55 điểm. Sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa 2 nhóm. Kết quả tương tự được ghi nhận trong phase 3. Cường độ đau nhóm B, nhóm dùng Feverfew giảm xuống 3.95 điểm, trong khi đó nhóm A tăng 1.36 điểm.

 ảnh 1Các triệu chứng khác

Trong giai đoạn nhãn mở, ghi nhận được việc giảm đáng kể một số triệu chứng như nôn, nhạy cảm với ánh sáng và tiếng ồn (Hình 2). Đây là sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (p<0.001).

ảnh 2

Sản phẩm từ Feverfew

Ngày nay cùng với sự phát triển công nghệ bào chế dược phẩm, Feverfew đã được sử dụng rộng rãi trên thế giới trong các chế phẩm điều trị đau nửa đầu, đặc biệt ở các nước Hoa kỳ, Anh, Pháp….ảnh 3

Các bài báo về Feverfew

  • Feverfew, thảo dược cho căn bệnh mạn tính.
  • Hiệu quả của Feverfew trong điều trị đau nửa đầu